Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010

Thủ thuật sửa lỗi USB (Phần 1)

Một số thủ thuật giúp bạn giái quyết các vấn đề rắc rối liên quan tới USB của mình:

Sửa lỗi USB Please insert a disk into Removable Disk

Hướng dẫn sửa chữa ÚB khi bị lỗi Firmware Please insert a disk into Removable Disk
USB hiện nay được dùng rất phổ biến, gần như là một thứ không thể thiếu với người sử dụng vi tính. Giá cả thì ngày càng rẻ và đi củng với giá rẻ là việc chất lượng ngày càng đi xuống, và 1 điều hay xảy ra là có bạn mới mua về sài được vài ngày thì gặp hiện tượng là nó báo Please insert a disk into Removable Disk... như hình dưới

Và tệ nhất là USB 4G, 8G, 16G mà chỉ chép được có vài trăm MB là hết, có cái chép vào được mà lúc đọc ra thì...(sản phẩm USB dung lượng ảo)
Vậy để sửa các vấn đề trên thì phải làm thế nào??
Đầu tiên phải hiểu rõ một số khái niệm sau:
+ Cấu tạo:
- Về mặt phần cứng USB chỉ bao gồm 4 phần trong đó phần đầu cắm USB và thạnh anh 12 MHz coi như phụ còn lại 2 phần chính đó là ic giao tiếp, và chip nhớ (dạng flash).

- 1. Đầu cắm USB
- 2. IC giao tiếp (điều khiển) (FW USB nằm trong con chip này đây)
- 4. Chip nhớ (Flash)
- 5. Thạch anh 12Mz.
+ IC giao tiếp:
- Ic giao tiếp là một dạng “vi xử lý” chuyên dùng, điều khiển việc kết nối, truyền nhận và lưu trữ dữ liệu.


- Các lọai IC giao tiếp thông dụng đó là: iCreat, Alcor, Phison, Oti, Profilic, SSS-Solid State System, Netac, Ameco, Chipsbank, Skymedia, USBest…
- Bên trong các chip điều khiển này có một đoạn chương trình mà ta gọi là firmware. Đa phần lỗi của USB đều từ cái firmware này mà ra.
+ Chip nhớ (Flash):

- Nơi lưu trữ dữ liệu thực sự và khả năng lưu trữ nhiều hay ít tùy thuộc vào con chip nhớ này.
- Đây cũng là nơi các bác Trung Hoa phù phép USB của mình lên dung lượng rất chi là ảo...tưởng (có gặp trường hợp 16M mà phù phép lên đến 8G :59:... sợ luôn :77.
- Nguyên nhân của việc USB 4G,8G... mà chỉ sài được có vài trăm Mb, chép vào nữa là ko dùng được
+Cách đọc thông tin IC giao tiếp:
Có nhiều phần mềm loại này, nhưng khuyên các bác nên dùng pm ChipGenius v3.01 vì cơ sở dữ liệu nó lưu trên Web nên đa số IC của các hãng đều nhận diện được.
Download: http://www.mediafire.com/?fy2gjqyzjnf

Khi đã biết được con IC giao tiếp đó tên gì thì bước tiếp theo là download phần mềm flash dành riêng cho nó.
Download tại: http://www.flashboot.ru/index.php?name=Files


(Chọn hãng IC rồi chọn ver tương ứng (vd nó ghi là ...698X thì nghĩa là dùng được cho IC 6983,6981,6985, ...)
Hầu hết các phần mềm flash là khá giống nhau về giao diện. Nên ở đây chỉ demo việc dùng trình AlcorMP (090515.01) AU698X, AU3150X để flash FW cho USB trancents 1G mới bị die của em.
1. Đọc thông tin IC giao tiếp

2. Down cái phần mềm AlcorMP AU698X về (vì IC 6983) và chạy nó (ở trường hợp này chạy file AlcorMP.exe)


Chú ý cái tên IC được pm nhận dạng, click Setup --> OK (đừng táy máy click vào nút Start)
Vào đây sẽ có một số tùy chọn.
3. Thẻ Flash type
- Ô Flash : chọn tên IC tương ứng với chip EPP trên USB của bạn (đây là tên chip nhớ được điều khiển bởi IC giao tiếp và được pm tự động nhận dạng).
- RW cycle time (thời gian của 1 chu kỳ ghi/đọc) : bạn chọn thời gian mong muốn, càng nhỏ thì USB ghi/đọc càng nhanh. Tuy nhiên, nếu nhỏ hơn thời gian trễ của chip nhớ thì việc ghi/đọc sẽ bị lỗi.
Nếu bác nào biết thì tra thông số của chip nhớ trên http://www.alldatasheet.com để biết RW cycle time của nó.
Nếu không biết có thể làm đi làm lại vài lần, thay đổi thời gian chu kỳ RW rồi ghi/đọc thử, không lỗi là OK.
Tốt nhất ko biết thì cứ để default
- Ở mục Scan mod: Chọn Low Level Format (format cấp thấp - nạp FW)


4. Thẻ Mode:


- Pure Disk : Dùng chung (ai dùng cái USB này cũng được)
- Fixed : Dùng cố định trên máy (đang xử lý nó)
- ReadOnly Disk : Chỉ đọc/không ghi xóa.
- Password disk : Đặt mật khẩu truy cập.
- Auto run: Tự động chạy file trên nó.
- Partition set : Thiết lập dung lượng cho phân vùng muốn khởi tạo, dĩ nhiên nên để 100%. Trừ khi bạn kiểm tra và biết USB của mình bị lỗi ở phần cuối của bản đồ nhớ thì điều chỉnh dần dần (như kiểu cắt bad ổ cứng bằng PQ)
- 1 số chip còn hỗ trợ thêm tính năng CAP set : đặt dung lượng mong muốn. Cái này cho phép "làm giả" dung lượng. Các bạn biết nhưng ko nên làm. (Cái này để làm USB dung lượng ảo)
5. Thẻ Information :
Thiết lập các thông tin về nhà sản xuất. Nếu thích thì có thể điền tên của mình (không dấu) keke
Lưu ý: Các bác chưa hiểu sâu thì để nguyên giá trị VID và PID đừng có tò mò tọc mạch kẻo hỏng chuyện
6. Thẻ Bad Block:


Chọn Auto. Khi đó phần mềm sẽ tự động khoanh vùng lỗi trên chip nhớ.
7. Thẻ Other (1 số phần mềm sẽ ghi S/N):
Đặt serial number cho USB đang xử lý + 1 số tuỳ chỉnh khác. Tốt nhất để nguyên vậy, bác nào thích thì cứ nghiên cứu
Sau khi đã đặt xong, OK để quay ra màn hình chính.
Nhấn nút Start để bắt đầu nạp FW, dung lượng càng lớn thì càng lâu.
Sau khi xong, rút USB khỏi máy, cắm lại sẽ chạy luôn.
Lưu ý : Nếu phần mềm flash không nhận dạng được chip nhớ và dung lượng thì đã có hư hỏng (phần cứng) ở chip nhớ. Khi đó chắc phải nhờ các chuyên gia điện tử xử lý tiếp.

->Read More...

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2010

[MF]Hiren's BootCD 10.1



+ BootCD Customizer to create custom bootable CD
+ RegBak 1.0
+ Grub4Dos installer 1.1
+ USB Format Tool
+ MbrFix 1.3
+ MBRWizard 2.0b (for windows)
+ Diskman 4.2 (for windows)
+ FileDisk Mount Tool 25
+ GPU-Z 0.3.6
+ Dependency Walker 2.2
- ace.exe rar.exe arj.exe unrar.exe
- PC-Config 9.33
- BootMagic
- PC Doctor 2004
- LapLink 5.0
- Lost & Found 1.06
- Partition Table Doctor 3.5
Program Launcher 1.3 (Autorun.exe)
BIOS *****er 5.0
EASEUS Partition Master 4.1.1
DriveImage XML 2.13
Recuva 1.32
Memtest86+ 4.00
IBM/Hitachi Drive Fitness Test 4.16
IBM/Hitachi Feature Tool 2.15
Navratil Software System Information 0.60.38
Astra 5.44
CPU Identification utility 1.18
PC Wizard 2009.1.911
SIW 2009-10-22
USBDeview 1.47
MBRTool 2.3.200
TrueCrypt 6.3
ProduKey 1.38
WirelessKeyView 1.30
MessenPass 1.27
Mail PassView 1.52
Opera Web Browser 8.53 (with flash support)
7-Zip 9.07 beta
CCleaner 2.25
CurrPorts 1.80
OpenedFilesView 1.46
Unlocker 1.8.8
RegScanner 1.80
Autoruns 9.56
Silent Runners Revision 60
Xp-AntiSpy 3.97.5
Shell Extensions Manager (ShellExView) 1.45
Malwarebytes Anti-Malware 1.41 (1811)
SmitFraudFix 2.424
SuperAntispyware 4.30 (1811)
UnknownDevices 1.4.20 (1811)
Kaspersky Virus Removal Tool 7.0.0.290 (1811)
SpywareBlaster 4.2 (1811)
PCI 32 Sniffer 1.4 (1811)
PCI and AGP info Tool (1811)
ComboFix (1811)
Spybot - Search & Destroy 1.6.2 (1811)

Download here
->Read More...

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2009

Windows XP PRO SP3 Cyber Version (June 2009)


Multiboot disk Windows XP PRO SP3 Cyber Version 2009 CD. Build collected on the original image of Windows XP SP3 MSDN. Wpi + DriverPacks. The corporate version, activation is not required!
No CD-KEY needed. Already Slipstreamed.
No ACTIVATION needed.
No CRACK needed.
No PATCHES needed.
VISTA LOOK!
FULLY UPDATEABLE.

- Based on the Windows XP SP3 MSDN
- DriverPacks With last updates
- Support most types of SATA / Raid drivers
- 18 optional program.

DriverPacks:
* DriverPack Chipset
* DriverPack CPU
* DriverPack LAN
* DriverPack MassStorage
* DriverPack WLAN

What's removed:
- MSN Explorer
- Windows Tour
- DOTNETFX
- SUPPORT
- VALUEADD

Optional program:
- Windows Live Messenger 8.5
- Internet Download Manager 5.17
- Mozilla Firefox 3
- Yahoo Messenger 9
- Java 6
- Ultra ISO 9.3
- WinRAR 3.70 Corporate
- Flash Player 10
- Kels CPLBonus 9.2.6
- TrueTransparency
- Vista Drive Icon
- Theme Collection
- Cursor Collection
- RocketDock 1.3
- Patch for Delete Old Wallpapers


Addons Integrated:
- Internet explorer 7 Final
- Windows Media Player 11
- Vista RTM Boot screen
- Custom Backgrounds
- Vista User ***s pictures
- Vista Aero Cursors
- Tweaks
- CyberXP Theme
Download:
1.http://www.mediafire.com/download.php?1nimgnlh0de
2.http://www.mediafire.com/download.php?ywmdbtujndn
3.http://www.mediafire.com/download.php?i2yozm4ihmn
4.http://www.mediafire.com/download.php?mzn5ny2mj5z
5.http://www.mediafire.com/download.php?ndxuj1zmyne
6.http://www.mediafire.com/download.php?d4dktgmonoj
7.http://www.mediafire.com/download.php?ztmmnwitw0o

->Read More...

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2009

10 thủ thuật với Windows XP

Windows XP hiện đang là hệ điều hành được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Windows XP được Microsoft sản xuất dành cho các máy tính cá nhân chạy trên các bộ xử lý x86 và IA-64. Tên "XP" là cách viết ngắn gọn của "Experience".

Phiên bản phổ biến của hệ điều hành này là Windows XP Home Edition, nhắm đến người dùng gia đình, và Windows XP Professional, cung cấp thêm một số tính năng mới cho doanh nghiệp. Windows XP nổi tiếng nhờ khả năng ổn định và hiệu quả được nâng cao so với các phiên bản 9x của Microsoft Windows.

Dưới đây là 10 thủ thuật nhỏ giúp bạn tùy chỉnh một số tính năng của Windows XP:

1. Thay đổi thư mục mở mặc định của Windows Explorer

Theo mặc định trong Windows XP, Explorer hiển thị thư mục My Documents với tất cả các thư mục con.

Thực ra hiển thị mặc định này không có vấn đề gì, nhưng có thể bạn không thường xuyên mở thư mục My Document trong Windows Explorer mà thay vào đó là một folder khác chứa các tài liệu làm việc của bạn.Với một thay đổi nhỏ những cài đặt trong Windows Explorer Properties bạn có thể lựa chọn cho hiển thị những thư mục nào và có thể lựa chọn cách thức hiển thị cho chúng.

Để mở hộp thoại Windows Explorer Properties, phải chuột vào biểu tượng Windows Explorer. Bạn có thể copy shortcut của Windows Explorer (vào menu Start\ All Programs\ Accessories) ra desktop để tiện thao tác. Khi hộp thoại Windows Explorer Properties hiện ra, chọn tiếp tab Shortcut. Để mở một thư mục nào đó, bạn chỉ cần thay đổi đường dẫn trong hộp Target của tab Shortcut như sau:

C:\windows\EXPLORER.EXE /n, /e, X:\[Folder muốn mở]

Ví dụ, muốn mở một thư mục có tên Working Folder trong ổ đĩa U:, bạn nhập đường dẫn sau:

C:\windows\EXPLORER.EXE /n, /e, u:\Working Folder

Sau khi thực hiện xong ấn OK. Từ giờ, mỗi lần mở Windows Explorer, nó sẽ hiển thị thư mục Working Folder của bạn thay vì My Documents.

Thủ thuật trên hiển thị thư mục Working Folder và mọi thư mục con trong nó. Tuy nhiên bạn có thể sử dụng một mẹo nhỏ nữa để ẩn đi những thư mục con này. Bạn chỉ cần bổ sung lệnh /select vào hộp Target:

C:\windows\EXPLORER.EXE /n, /e, /select, u:\working folder

Bạn có thể áp dụng thủ thuật này với những thư mục bạn muốn, bạn có thể tạo cho chúng những biểu tượng khác nhau và đặt trên desktop hay trên thanh công cụ.

Trong đó:

* /n: Mở một cửa sổ mới cho mỗi mục được lựa chọn.

* /e: Sử dụng khung nhìn Windows Explorer. Khung nhìn Windows Explorer rất giống với File Manager trong hệ điều hành Windows phiên bản 3.x. Chú ý khung nhìn mặc định là Open.

* /root: Chỉ định cấp độ gốc của khung nhìn cụ thể. Mặc định sử dụng vùng tên gốc chuẩn (desktop). Những gì được chỉ định đều là gốc hiển thị.

* /select: Chỉ định những folder được nhận ưu tiên. Nếu sử dụng lệnh /select, folder chính sẽ được mở và những đối tượng cụ thể sẽ được chọn.

2. Cài đặt hành động AutoPlay mặc định cho USB

Thủ thuật này có thể áp dụng trên cả Windows XP Home và Windows XP Professional.

Nếu có một ổ USB chứa nhiều loại file Microsoft Windows XP khác nhau, bạn có thể cấu hình cho ổ USB này tự động mở Windows Explorer thay vì hiển thị hộp thoại AutoPlay. Bạn cũng có thể lựa chọn Open Folder To View Files In Windows Explorer và chọn tiếp hộp chọn Always Do The Selected Action. Nếu làm như vậy thì bạn chỉ cấu hình được USB với một loại file. Để cấu hình cho USB mở mọi loại file trong Windows Explorer cùng lúc bạn thực hiện các thao tác sau:

* Kết nối USB vào máy tính

* Khi thấy hộp thoại AutoPlay click Cancel.

* Mở My Computer, phải chuột vào biểu tượng USB chọn Properties.

* Trong hộp thoại Properties, lựa chọn tab AutoPlay.

* Thực hiện các bước sau cho mỗi mục trong danh sách Content Type:

* Lựa chọn một mục trong danh sách Content Type.

* Chọn tiếp Select An Action To Perform trong bảng Actions.

* Chọn hành động Open Folder To View Files In Widows Explorer.

* Sau đó click Apply.

* Click OK để đóng hộp thoại Properties.

Khi đã thực hiên xong các thao tác trên, bạn hãy ngắt kết nối của USB với máy tính. Đợi một lát rồi kết nối lại. Sau khi kết nối bạn sẽ thấy tiến trình Autoplay xuất hiện ngay lập tức, sau đó bạn sẽ thấy Windows Explorer bật mở và hiển thị tất cả các file và folder trong USB.

3. Bổ sung ảnh nhỏ vào những folder trong Windows Explorer

Khi đang làm việc với một folder trong hệ điều hành Windows có chứa rất nhiều ảnh, Windows thường hỗ trợ xem các hình ảnh nhỏ đại diện của những ảnh hiển thị trong Windows Explorer.

Tuy nhiên khi kích hoạt tính năng này thì lượng tài nguyên hệ điều hành đang sử dụng sẽ tăng lên. Những ảnh nhỏ này làm tăng vùng trống trên ổ cứng và trong bộ nhớ khi chúng đang được hiển thị. Tùy thuộc vào hệ thống, những nguồn tài nguyên hiện có, và số lượng ảnh mà bạn có thể làm chậm PC nếu không cẩn trọng. (Vì vậy mà thủ thuật này cũng rất hữu dụng với những người muốn tắt bỏ chế độ tạo ảnh nhỏ trong Windows).

Mở Windows Explorer, tại đây mở folder chứa những hình ảnh mà bạn muốn xem ảnh nhỏ của chúng. Trong menu Windows Explorer, vào Tools\ Folder Option để truy cập vào Control Panel, chọn tab View.

Trong vùng Files And Folders có một hộp chọn Do Not Cache Thumbnails. Nếu hộp chọn này được chọn, không có ảnh nhỏ nào được lưu trên ổ cứng của bạn. Vì vậy nếu muốn lưu trữ bạn nên hủy chọn nó. Sau đó click OK.

Để bắt đầu xem những ảnh nhỏ, bạn phải thay đổi hiển thị trong Windows Explorer. Trên thanh menu, click View\ Thumbnails, và Windows sẽ thay thế những biểu tượng file thông thường bằng những ảnh nhỏ của những bức ảnh đó. Windows cũng sẽ tạo một file mới trong thư mục đó và đặt tên là Thumbs.db để lưu trữ những thông tin của ảnh nhỏ. File Thumbs.db sẽ được tạo trong mỗi folder mà bạn cài đặt để hiển thị ảnh nhỏ.

Để áp dụng những cài đặt riêng của bạn cho mọi folder trong Windows Explorer, vào Tool chọn Folder Options sau đó click tab View. Tại đây, sau khi đã thực hiện xong các cài đặt, click vào nút Apply To All Folders trước khi click OK.

4. Cài đặt Microsoft Management Console 3.0 trên Windows XP SP2

Thủ thuật này được áp dụng cho cả hệ điều hành Windows XP Home và Windows XP Professional nhưng phải cài đặt phiên bản SP2 hoặc SP3. Và trước khi sử dụng thủ thuật này bạn nên backup hệ thống đề phòng rủi ro.

Ứng dụng Microsoft Management Console (MMC) cung cấp cho người dùng một giao diện shell cho phép chèn nhiều công cụ snap-in để tạo những console riêng. Những console này có thể giúp thực hiện nhiều tác vụ. Quá trình tạo console cuộn trong phiên bản MMC 2.0 của Windows XP thường rất khác biệt.

Thật may Microsoft đã giới thiệu một giao diện MMC hoàn toàn mới cho Windows Vista và Windows XP. Phiên bản MMC 3.0 hỗ trợ nhiều tính năng hơn cho snap-in so với những phiên bản tước đó và tích hợp một giao diện người dùng mịn hơn cho phép tạo mới và sử dụng console rất dễ dàng.

Một trong những cải tiến đáng kể nhất trong phiên bản MMC 3.0 cho Windows XP đó là nó bổ sung một giao diện Add Or Remove Snap-ins hoàn toàn mới. Thay vì phải sử dụng một thủ tục dài dòng gồm hai hộp thoại riêng biệt để tạo một console riêng, phiên bản MMC 3.0 cung cấp một hộp thoại đơn giúp việc tạo console dễ dàng hơn nhiều.

Việc tải và cài đặt phiên bản MMC 3.0 dành cho hệ điều hành Windows XP khá phức tạp. Tuy nhiên bạn có thể kích hoạt thủ công giao diện người dùng mới bằng cách bổ sung một key vào Registry. Thực hiện các bước sau:

* Tải bản Microsoft Management Console 3.0 dành cho Windows XP từ Microsoft Download Center.

* Chạy file thực thi WindowsXP-KB907265-x86-ENU.exe để khởi chạy trình cài đặt của MMC 3.0.

* Sau khi hoàn thành cài đặt, nhập regedit vào hộp Run trong menu Start để chạy Registry Editor.

* Vào HKEY_LOCAL_MACHINE\ SOFTWARE\Microsoft\MMC.

* Phải chuột vào key phụ MMC và chọn New\ Key.

* Đặt tên key mới này là UseNewUI.

* Đóng cửa sổ Registry Editor.

Giờ đây, mỗi khi chạy file thực thi MMC.exe từ hộp Run, bạn có thể sử dụng giao diện Add or Remove Snap-ins mới. Bạn chỉ cần di chuyển thanh trượt trên bảng bên trái (chứa các console hiện có) xuống và click nút Add để tạo console trong bảng bên phải.

5. Copy chủ đề desktop sang những máy tính sử dụng Windows XP khác

Bạn có thể áp dụng thủ thuật này cho Windows XP Home và Windows XP Professional.

Nếu đã tạo một theme desktop ưa thích và phải làm việc trên nhiều máy tính (đều sử dụng Windows XP), bạn có thể tạo lại theme đó trên những máy tính khác. Tuy nhiên, việc tạo lại một cách thủ công trên nhiều máy sẽ làm bạn tốn rất nhiều thời gian. Bạn chỉ cần làm theo các thao tác sau đây để copy một theme desktop của Windows XP sang nhiều máy tính sử dụng Windows XP khác nhau.

* Trên máy tính chứa theme desktop yêu thích của bạn, phải chuột lên màn hình và chọn Properties. Trong tab Themes, lựa chọn theme đó rồi click vào nút Save as để lưu theme thành một file vào thư mục My Documents hay một folder bất kì (giả sử lưu theme với tên favorite).

* Chạy Windows Explorer và truy cập vào My Documents.

* Tìm file favorite (có đuôi .theme), xác định vị trí file đó và copy vào một ổ di động (USB, thẻ nhớ, …)

* Sau đó copy file favorite.theme vào những máy mà bạn muốn áp dụng.

* Phải chuột lên màn hình và chọn Properties để mở hộp thoại Display Properties.

* Trên tab Themes, click vào danh sách Theme thả xuống và chọn Browse.

* Trong hộp thoại Open Theme, duyệt tìm file favorite.exe.

* Click OK để tải theme mới và đóng hộp thoại Display Properties.

Trong khi Windows XP tải theme desktop mới, bạn sẽ thấy thông báo Please Wait ở giữa màn hình.

Mầu sắc của desktop sẽ được thay đổi khi những cài đặt mới được áp dụng. Chú ý, nếu bạn sử dụng những thành phần không có sẵn trên Windows (như hình nền riêng, …) bạn cần copy chúng cùng với file favorite.theme.

6. Truy lục thông tin cho nhiều ổ đĩa của Windows XP

Thủ thuật này được sử dụng cho Windows XP Home và Windows XP Professional.

Bạn có thể kiểm tra thông tin dung lượng ổ cứng trống và dung lượng đã sử dụng của ổ đĩa trong Windows XP bằng cách phải chuột lên ổ đĩa trong cửa sổ My Computer rồi chọn Properties. Ngoài ra có một cách khác để kiểm tra và phân tích dung lượng ổ cứng đó là sử dụng các biểu đồ mô tả các thông tin này dưới dạng hình họa.

Nếu ở cứng của bạn được chia làm nhiều ổ đĩa, thì việc thực hiện phương pháp này trên từng ổ có thể mất nhiều thời gian. Nhưng bạn không phải lo lắng về điều đó vì Windows XP hỗ trợ cùng loại biểu đồ hình tròn giúp hiển thị tất cả các ổ địa trên nhiều tab của một hộp thoại.

* Mở My Computer.

* Giữ phím Ctrl và lựa chọn những ổ muốn kiểm tra thông tin.

* Sau đó phải chuột lên một trong những ổ đĩa đã lựa chọn rồi chọn Properties.

Hộp thoại kết quả sẽ có một tab chứa một biểu đồ hình tròn cho mỗi ổ đĩa. Bạn có thể áp dụng phương pháp này cho ổ di động và thậm chí là ổ đĩa mềm.

7. Quản lý danh sách chương trình thường sử dụng trong menu Start của Windows XP

Thủ thuật này có thể áp dụng cho Windows XP Home và Windows XP Professional. Trước khi áp dụng phương pháp này, bạn nên backup hệ thống vì nó cần thay đổi trong Registry.

Một trong những tính năng của menu Start trong Windows XP đó là nó liệt kê những chương trình thường được sử dụng. Tuy nhiên, Windows XP chỉ cho phép bạn xóa danh sách này và thay đổi số lượng chương trình trong danh sách này. Thủ thuật này sẽ chỉ dẫn cho bạn một quyền kiểm soát nữa đó là chặn một số chương trình xuất hiện trong danh sách này.

Ví dụ, có thể bạn không muốn hiển thị một số ứng dụng như Calculator, Notepad, hay những game mà bạn thường chơi, … hiển thị trong danh sách này.

Để chặn một ứng dụng xuất hiện trong danh sách ứng dụng thường sử dụng trong menu Start, bạn chỉ cần bổ sung một key vào Registry. Thực hiện như sau:

* Chạy Registry Editor.

* Vào HKEY_CLASSES_ROOT\Applications.

* Phải chuột vào key Applications và chọn New\ Key.

* Đặt tên key giống với tên file thực thi của ứng dụng.

* Phải chuột lên key mới tạo chọn New\ String Value.

* Đặt tên của String Value là NoStartPage.

* Sau đó đóng cửa sổ Registry Editor.

Bạn cần phải khởi động lại máy hoặc ít nhất là Log off để áp dụng những cài đặt đó.

8. Đưa nhiều ứng dụng vào Win Tabber


Thủ thuật này được sử dụng cho Windows XP Home và Windows XP Professional.

Nếu đang sử dụng một chương trình trình duyệt có khả năng tạo nhiều tab (như Firefox, IE 8, …) chắc chắn bạn sẽ thấy được sự tiện lợi của nó.

Có thể bạn đã từng cùng lúc làm việc với nhiều ứng dụng khác nhau hay trên một số ứng dụng nhất định của hệ điều hành và bạn ước rằng phải chi giao diện người dùng cũng có tab.

Ví dụ, bạn đang làm việc với nhiều bản sao của Windows Explorer, và đồng thời làm việc với nhiều file và folder trên đĩa cứng và những ổ đĩa được chia sẻ trong mạng. Có thể bạn đang xử lý nhiều file văn bản mở một vài bản copy của Notepad cùng một lúc.

Mặc dù thanh tác vụ Taskbar được thiết kế vận hành như một trình chuyển đổi ứng dụng bằng cách ấn tổ hợp phím Alt+Tab, nhưng nếu mở nhiều cửa sổ trên một giao diện nhiều tab riêng tiện lợi hơn nhiều.

Win Tabber tích hợp nhiều công cụ miễn phí cho phép bạn dễ dàng chuyển đổi nhiều cửa sổ trong một giao diện người dùng duy nhất với nhiều tab. Khi đã cài đặt và vận hành Win Tabber, bạn có thể mở nhiều cửa sổ, và chỉ cần một cái click mỗi cửa sổ sẽ được đua vào Win Tabber.

Khi đã được đưa vào Win Tabber, mỗi cửa sổ sẽ nằm trong một tab riêng biệt và bạn chỉ cần click vào tab để chuyển đổi giữa các cửa sổ.

9. Sử dụng ảnh trong 3D Flying Objects của Windows XP

Thủ thuật này được sử dụng cho Windows XP Home và Windows XP Professional.

Nếu đã từng sử dụng trình bảo vệ màn hình My Picture Slideshow của Windows XP để hiển thị những bức ảnh yêu thích bạn sẽ thấy 3D Flying Objects là một tính năng khá thú vị (cho phép bạn sử dụng một bức ảnh cho kết cấu của trình bảo vệ màn hình 3D Flying Objects). Bạn chỉ cần thực hiện các thao tác sau:

Xác định hình ảnh bạn muốn sử dụng trong trình bảo vệ màn hình này, mở nó trong một chương trình đồ họa và lưu nó dưới dạng ảnh Bitmap (.bmp). Bitmap là loại ảnh duy nhất mà 3D Flying Object cho phép lựa chọn.

Phải chuột lên màn hình chọn Properties. Sau đó chọn tab Screen Saver, trong danh sách Screen Saver chọn 3D Flying Object.

* Click vào nút Settings và chọn Textured Flag từ hộp danh sách Style.

* Click vào nút Texture và duyệt tìm bức ảnh Bitmap mà bạn vừa lưu trong hộp thoại Choose Texture File.

* Di chuyển con trượt Size và Resolution tới cài đặt Max và click OK để đóng hộp thoại 3D Flying Objects Setting.

* Click nút Preview để kiểm tra trình bảo vệ màn hình mới, sau đó click OK để áp dụng nó.

10. Cấu hình Windows Explorer hiển thị ỗ đĩa của Windows XP

Thủ thuật này được sử dụng cho Windows XP Home và Windows XP Professional.

Khi click đúp vào biểu tượng My Conputer trong Windows XP, bạn sẽ thấy tất cả các ổ đĩa trên hệ thống. Tuy nhiên, khi chạy Windows Explorer, chỉ có những file và thư mục con của thư mục My Documents được hiển thị trên bảng bên phải. Nếu muốn Windows Explorer hiển thị tất cả ổ đĩa như cửa sổ My Computer, bạn thực hiện các thao tác sau:

* Phải chuột lên màn hình.

* Chọn New\ Shortcut.

* Nhập C:\Windows\Explorer.exe /n, /e, /select, C:\ vào hộp địa chỉ. Sau đó click nút Next.

* Nhập My Explorer vào hộp tên Shortcut và click Finish.

Giờ đây, khi mở Shortcut mới này, sẽ xuất hiện một cửa sổ rất giống với cửa sổ My Computer.
->Read More...

Đưa Safe Mode vào menu khởi động chuẩn của Windows XP

Khi gặp phải một số sự cố với Windows XP, có thể bạn cần phải khởi động hệ thống trong chế độ Safe Mode. Tuy nhiên, việc lựa chọn chế độ khởi động Safe Mode không trực quan và là một tác vụ không thân thiện với người dùng.

Mặc dù bạn có thể lựa chọn nó khá dễ dàng nhưng bạn lại phải chú ý và ấn F8 đúng thời điểm trong khi hệ thống đang khởi động (thông thường đa số người dùng sẽ ấn F8 liên tục từ khi máy bắt đầu khởi động để không bị lỡ mất thời điểm nhạy cảm này). Sau đó một menu sẽ hiện ra và bạn phải lựa chọn chế độ khởi động Safe Mode trong menu này.

Bạn nghĩ sao nếu chúng ta rút ngắn những thao tác này bằng cách đưa chế độ khởi động Safe Mode vào menu khởi động chuẩn của Windows XP (Thường menu này chỉ xuất hiện khi bạn cài đặt 2 hệ điều hành trên một máy cho phép bạn lựa chọn hệ điều hành khởi động)? Chắc chắn là sẽ rất tiện lợi. Bạn chỉ cần thực hiện các thao tác sau:

* Mở hộp thoại System Properties (vào System trong Control Panel hoặc phải chuột lên My Computer và click Properties).

* Trên tad Advanced, click nút Setting trong vùng Startup And Recovery.

* Trong vùng System Startup, click nút Edit (mở file Boot.ini).

* Khi file Boot.ini mở trong Notepad, tìm dòng có kết thúc với khóa chuyển đổi /fastdetect.

* Tô sáng và copy dòng đó, sau đó dán xuống bên dưới.

* Thay đổi WINDOWS=”Microsoft Windows XP Professional” thành WINDOWS=”Safe Mode”.

* Sau đó bổ sung lệnh /safeboot:minimal /sos /bootlog vào phía cuối dòng này.

Sau khi hoàn thành file Boot.ini có 2 dòng như sau:

multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(2)\WINDOWS="Microsoft Windows XP Professional" /fastdetect

multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(2)\WINDOWS="Safe Mode" /safeboot:minimal /sos /bootlog

Trong lần khởi động máy tới bạn sẽ có hai lựa chọn khởi động, một cho Windows XP và một cho chế độ Safe Mode.


Lưu ý:

Ngoài những bước truy cập vào file Boot.ini trên, bạn có thể truy cập nhanh hơn bằng cách mở cửa sổ My Computer, sau đó nhập đường dẫn C:\Boot.ini vào thanh địa chỉ và nhấn Enter.

Để xóa bỏ lựa chọn chế độ khởi động Safe Mode trong menu khởi động, bạn chỉ cần truy cập lại vào file Boot.ini và bôi đen dòng có chứa WINDOWS=”Safe Mode” và xóa bỏ nó. Sau đó lưu lại những thay đổi cho file Boot.ini.

Nếu máy tính của bạn cài nhiều hệ điều hành bạn cũng có thể sử dụng phương pháp này để không phải lựa chọn hệ điều hành, hoặc thay đổi thời gian mặc định hệ thống sẽ đưa ra lựa chọn thay bạn.

Ví dụ, bạn cài đặt Windows XP và Windows 2000 trên cùng một máy. Để xóa bỏ Windows 2000, bạn chỉ cần vào file Boot.ini và xóa dòng có chứa WINDOWS=”Windows 2000”.

Để thay đổi thời gian hệ thống lựa chọn hệ điều hành để khởi động, bạn truy cập vào file Boot.ini, tại dòng timeout đặt lượng thời gian tùy thích (tính theo giây, mặc định là 30 giây). Sau đó lưu lại những thay đổi cho file Boot.ini.
->Read More...

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2009

Khắc phục sự cố Windows với MSconfig

Đôi khi chúng ta gặp các trục trặc với máy tính của mình và điều đó có thể khiến bạn lo lắng. Trục trặc có thể là lỗi của các driver thiết bị, hoặc một ứng dụng từ chối khởi động, hoặc cũng có thể là một trong nhiều tiến trình nền bị hỏng hóc. Có một vài chẩn đoán chúng ta có thể làm trước khi quyết định mang máy tính đi bảo hành hoặc sửa chữa.



Sự trợ giúp đầu tiên là một tiện ích hệ thống của Windows có tên gọi là System Configuration Utility (MSconfig.exe). Những người dùng cao cấp thì rất quen thuộc với ứng dụng này nhưng với những người dùng mới thì công cụ hệ thống này xứng đáng được xem xét.

System Configuration Utility (hoặc MSconfig.exe) được dùng để quản lý các tiến trình xảy ra khi hệ thống Windows khởi động. Giao diện đồ họa của nó rất đơn giản để điều khiển các tiến trình khởi động khác nhau và các file cấu hình sử dụng. Nó cũng là công cụ đầu tiên chúng ta dùng đến nếu muốn tăng tốc độ khởi động, như nó cho phép chúng ta bật và tắt các chương trình ở chế độ 'startup'. Chúng ta sẽ dùng nó để chấn đoán một hệ thống bị treo.

Kĩ thuật chúng ta dùng được gọi là clean boot. Trong một clean boot hệ điều hành sự được load vào mà không khởi động các tiến trình 'startup' nền có thể gây ra các xung đột.

Làm cách nào để clean boot máy tính của bạn?

Windows XP

1. Nhấn vào Run (hoặc Winkey + R) - trong trường Open của hộp thoại Run gõ vào msconfig. Lệnh này sẽ khởi động System Configuration Utility.



2. Trong thẻ General của System Configuration Utility, nhấn vào nút Selective Startup. Bỏ chọn mục Process SYSTEM.INI File, Process WIN.INI File và Load Startup Items. Chọn mục Load System Services bởi vì mục này khởi động cách dịch vụ Microsoft cần thiết. Mục Use Original Boot.ini được chọn theo mặc định.



Chú ý: Bỏ chọn Load System Services sẽ vô hiệu hóa các dịch vụ Microsoft (ví dụ như Plug and Play, Networking and Error Reporting) và xóa tất cả các điểm khôi phục của tiện ích System Restore. Dịch vụ hệ thống cũng được xác định gây ra các xung đột. Vì vậy không được bỏ chọn nó.

3. Thẻ Services là nơi chúng ta sẽ ghé thăm tiếp theo. Trên thẻ Services, chọn Hide All Microsoft Services và chọn Disable All. Sau đó nhấn OK. Một thông điệp xuất hiện cảnh báo bạn đã dùng tiện ích System Configuration để thay đổi cách Windows khởi động. Nhấn OK để khởi động lại hệ thống.


Windows Vista

Trong Windows Vista, tiến trình này hầu như là một hình ảnh trung thực của chính nó trong Windows XP.

1. Nhấn Start - Gõ msconfig vào trong hộp Search, và sau đó nhấn Enter để khởi động tiện ích System Configuration trong Vista.

2. Trên thẻ General, chọn Selective Startup - bỏ chọn Load Startup items



3. Tiếp theo đến thẻ Services. Chọn mục Hide All Microsoft Services và nhấn nút Disable All. Nhấn OK để khởi động lại. (màn hình này tương tự như trong Windows XP)

Sau khi máy tính khởi động lại, chạy lại các ứng dụng xung đột trước đây. Nếu vấn đề này vẫn còn tồn tại thì nguyên nhân có thể nằm ở một nơi khác. Đưa máy tính trở lại trạng thái trước đây bằng cách chọn Normal Startup từ thẻ General và khởi động lại.


Nếu vấn đề không còn xuất hiện nữa thì thủ phạm là một trong các chương trình 'startup' trong thẻ Services.

Xác định chương trình gây ra vấn đề

Nếu máy tính có nhiều dịch vụ chạy dưới dạng ứng dụng nền. Bạn cần làm cách nào đó bó hẹp phạm vi các dịch vụ gây ra vấn đề này. Giải pháp đơn giản nằm ở việc kích hoạt sự lựa chọn của một số dịch vụ này và khởi động lại máy tính.

1. Bắt đầu với một diện rộng hơn, ví dụ cho một nửa các dịch vụ này kích hoạt và một nửa không. Khởi động lại máy tính. Chạy ứng dụng có thể gây ra lỗi để kiểm tra vấn đề.



2. Nếu vấn đề vẫn còn tồn tại, thì chắc chắn là sự xung đột là do các dịch vụ đang được kích hoạt. Nếu không, sự xung đột nằm trong cách dịch vụ mà bạn đã bỏ kích hoạt. Đây là cách bó hẹp một nửa.

3. Lặp lại việc chọn một nửa các dịch vụ nằm trong vùng đáng nghi. Thử lại hai hoặc ba lần cho đến khi có thể xác định được chính xác dịch vụ nào gây ra vấn đề.

4. Sau khi xác định được dịch vụ gây ra vấn đề, bây giờ chúng ta phải đối phó với nó.

Có các giải pháp là:

- Vô hiệu hóa dịch vụ đó từ thẻ Services hoặc từ thẻ Startup.

- Tìm kiếm trên internet một câu trả lời có thể và cho phép nó.

Kĩ thuật trên rất cơ bản trong tự nhiên. Nó có thể được thực hiện trong một cách tương đối an toàn.
->Read More...

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

Bản ghost xp sp3 công nghệ ylmf chạy trên nhiều loại main


Mình tìm thấy trên net và đã cài thử cho 3 máy ở nhà đều chạy ngon , kể cả Lap
Cái này rất thích hợp cho ác bác làm quán nét

Bản ghost xp sp3 công nghệ ylmf chạy trên nhiều loại main

Với bản windows này là bản chính thức từ Microsoft. Đã active thành công, update thoải mái….


aa
Bản ghost không mang tính cá nhân, cài đặt đơn giản thích hợp cài đặt máy cho khách hàng..














Tự động nhận dạng cấu hình máy và cài đặt hầu hết driver thông dụng sau khi bung ghost…..














Chạy được hầu hết các loại máy desktop và laptop có mặt trên thị trường hiện nay….














Tích hợp đĩa Vista PE boot được trên các cd, dvd chuẩn SATA…..















File size: 699MB
Download



->Read More...

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2009

Những lỗi thường gặp trong máy tính và cách khắc phục (Phần 3)

- Trong phần trước chúng ta đã điểm qua những lỗi thường gặp phải liên quan đến file hệ thống và phần cứng, ở phần này, bài viết sẽ tiếp tục điểm qua những lỗi còn lại và cách thức để khắc phục chúng.


Biết được "bệnh" của máy tính để chữa trị
giúp người dùng tránh được phiền phức

Lỗi “[Tên chương trình] has caused an error in Kernel32.dll”
Có nhiều cách thông báo khác nhau mà lỗi kernel32.dll có thể biểu hiện trong máy bạn. Nhiều chương trình phần mềm khác nhau có thể gây ra lỗi kernel32.dll trong Windows, sau đây là vài thông báo lỗi thường gặp nhất:

- “Explorer caused an invalid page fault in module Kernel32.DLL

- "Iexplore caused an invalid page fault in module Kernel32.DLL”

- "Commgr32 caused an invalid page fault in module Kernel32.dll”

- "Error in Kernel32.dll”,

- "[PROGRAM NAME] has caused an error in Kernel32.dll"

Lỗi kernel32.dll xuất hiện khi Windows khởi động, khi mở chương trình, khi chương trình chạy hay đóng, hay bất cứ khi nào dùng Windows.

Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân gây ra lỗi kernel32.dll. File kernel32.dll liên quan đến việc quản lý bộ nhớ trong Windows. Khi Windows khởi động, file kernel32.dll được load vào một vùng nhớ được bảo vệ nên các chương trình khác không dùng cùng vùng nhớ đó. Lỗi "invalid page fault" kèm theo có nghĩa là một chương trình khác (hay nhiều chương trình) đang cố truy cập vào cùng vị trí trong bộ nhớ của máy tính.

Khắc phục

1. Khởi động lại máy.

2. Nếu lỗi "invalid page fault in module kernel32.dll" chỉ xảy ra khi sử dụng một phần mềm nào đó thì lỗi do phần mềm đó. Hãy xóa nó đi và cài lại.

Hãy chắc chắn cài các service pack hay các bản patch cho chương trình. Một trong số chúng có thể giải quyết vấn đề. Nếu cần, đừng sử dụng một chương trình nào đó nếu nó là nguyên nhân gây ra vấn đề.

3. Bạn có lưu các file DLL trên desktop ? nếu có hãy xóa chúng đi.

4. Quét virus. Vài loại virus cụ thể gây ra lỗi này.

5. Nâng cấp các driver của các phần cứng có liên quan đến lỗi kernel32.dll. Ví dụ, lỗi kernel32.dll xuất hiện khi bạn in, hãy nâng cấp driver của máy in. Nếu bạn nghi ngờ driver cần nâng cấp nhưng không chắc nên bắt đầu từ đâu hãy nâng cấp driver của card video.

6. Giảm gia tốc phần cứng trên card video.

7. Thiết lập lại các định dạng phần cứng mà nhà sản xuất khuyến cáo.

8. Kiểm tra hệ thống bộ nhớ. Lỗi kernel32.dll có thể là dấu hiệu cho thất p0haanf cứng không liên kết được với bộ nhớ.

9. Thực hiện việc vài sửa chữa Windows XP.

10. Cài lại Windows XP. (nên sao lưu dữ liệu trước khi tiến hành)

11. Cuối cùng, nếu mọi cách đều thất bại, có thể bạn đang có vấn đề với ổ cứng. Hãy thay ổ cứng mà cài mới Windows XP.

Lỗi “Hal.dll is Missing or Corrupt”

Có nhiều cách khác để thông báo mất hay hỏng file hal.dll, danh sách dưới đây là một trong những cách phổ biến nhất:

"Windows could not start because the following file is missing or corrupt:
\system32\hal.dll.
Please re-install a copy of the above file."

Winnt_root>\System32\Hal.dll missing or corrupt:
Please re-install a copy of the above file."

"Cannot find \Windows\System32\hal.dll"

"Cannot find hal.dll"

Lỗi mất hay hỏng file hal.dll hiện ra không lâu sau khi máy tính khởi động. Windows XP không load đầy đủ khi thông báo lỗi này xuất hiện.

Nguyên nhân: Việc này có thể do hỏng file hal.dll hoặc file bị xóa hoặc bị di chuyển. Ngoài ra còn có thể do mất file boot.ini hay ổ cứng bị hỏng.

Khắc phục

1. Khởi động lại máy, lỗi file hal.dll có thể chỉ là sự cố tạm thời.

2. Kiểm tra lệnh boot trong BIOS. Nếu gần đây bạn thay đổi lệnh boot hay BIOS bị cháy, đó có thể là nguyên nhân.

3. Chạy Windows XP Restore System từ lệnh nhắc. Nếu không có kết quả hay bạn nhận thông báo lỗi hal.dll trước khi hoàn tất quá trình này thì hãy chuyển sang bước tiếp theo.

4. Sửa chữa hoặc thay thế file boot.ini, việc này có kết quả nếu nguyên do là tại file boot.ini chứ không phải hal.dll.

5. Tạo một khu vực boot khác trong Windows XP. Nếu khu vực boot bị hỏng hay không được định dạng chính xác bạn có thể nhận thông báo lỗi hal.dll.

6. Phục hồi file hal.dll từ Windows XP CD. Nếu file hal.dll là nguyên nhân, phục hồi nó từ Windows XP CD có thể có hiệu quả.

7. Thực hiện cài đặt sửa chữa Windows XP. Việc này sẽ thay thế bất cứ file hỏng hay mất nào.

8. Cài lại Windows XP. Việc này sẽ xóa hoàn toàn Windows XP trong máy bạn và cài lại. Dù nó sẽ giải quyết hầu hết lỗi hal.dll, thực tế là bạn phải sao lưu dữ liệu và phục hồi sau.

Nếu bạn không thể truy cập file để sao lưu, hãy tháo ổ cứng và tiến hành sao lưu trên 1 máy tính khác.

9. Cuối cùng, nếu tất cả đều thất bại, kể cả việc cài lại, bạn chắc chắn đang đối mặt với vấn đề về ổ cứng. Hãy thay ổ cúng và cài mới Windows XP.

Lưu ý: Những cách khắc phục này chỉ áp dụng cho hệ điều hành Windows XP, bao gồm Windows XP Professional và Windows XP Home Edition.

Lỗi ”Unknown Hard Error C:\Winnt\System32\Ntdll.dll”

Có nhiều cách khác để lỗi ntdll.dll xuất hiện trong máy tính của bạn. Lỗi ntdll.dll có thể do một số nguyên nhân khác nhau gây ra nhưng thông thường sẽ có thông báo như sau:

- "STOP: 0xC0000221 unknown hard error C:\Winnt\System32\Ntdll.dll"

- "STOP: C0000221 unknown hard error \SystemRoot\System32\ntdll.dll"

- "AppName: [PROGRAM NAME] ModName: ntdll.dll"

- "[PROGRAM NAME] caused a fault in module NTDLL.DLL at [ANY ADDRESS]"

- "Crash caused in ntdll.dll!"

- "NTDLL.DLL Error!"

- "Unhandled exception at [ANY ADDRESS] (NTDLL.DLL)"

Lỗi ntdll.dll có thể xuất hiện trước hay sau khi sử dụng chương trình, trong khi chương trình đang chạy, khi Windows tắt hay khởi động, hậm chí trong khi cài Windows.

Nguyên nhân:

Hầu hết lỗi ntdll.dll là do hỏng file ntdll.dll, hỏng ổ cứng hay do vấn đề giữa Windows và các chương trình.

Khắc phục

1. Khởi động lại máy. Lỗi ntdll.dll có thể chỉ là tạm thời, khởi động lại có thể giải quyết vấn đề.

2. Nếu lỗi ntdll.dll chỉ xuất hiện khi khi bạn sử dụng một chương trình phần mềm cụ thể, hãy xóa nó, khởi động lại máy, cài phiên bản mới nhất.

3. Kiểm tra Windows service pack bạn đang chạy và kiểm tra trang web hỗ trợ của Microsoft xem có bản service pack gần hơn không thì cài nó.

4. Lựa chọn tắt các add-on của Internet Exploer. Nếu lỗi ntdll.dll xuất hiện khi bạn khởi động, chạy hay tắt Internet Exploer thì add-on có thể là nguyên nhân. Tắt các add-on, từng cái một, sẽ giúp xác định thủ phạm (nếu có).

Chú ý: Nếu lỗi ntdll.dll liên quan đến Internet Exploer, hãy cài đặt và sử dụng trình duyệt khác như Firefox.

5. Update driver cho các phần cứng. Driver quá hạn có thể gây lỗi ntdll.dll.

6. Kiểm tra bộ nhớ. Lỗi ntdll.dll có thể do một module hỏng trong hệ thống.

7. Thay thế IDE cable nối ổ cứng tới mạch chủ.

8. Cài lại Windows XP. Không nên làm vậy nếu những bước trước không hiệu quả.

9. Nếu mọi cách đều thất bại, có thể bạn đang có vấn đề với ổ cứng. Hãy thay ổ cứng mà cài mới Windows XP. ->Read More...

Những lỗi thường gặp trong máy tính và cách khắc phục (Phần 2)

- Chúng ta hãy cùng nhau tiếp tục điểm qua những lỗi thường gặp phải khi sử dụng máy tính và cách thức để giải quyết chúng.

Những lỗi thường gặp liên quan đến hệ thống và phần cứng:

Ở phần trước, chúng tôi đã giới thiệu đến bạn những lỗi xảy ra khi kết nối mạng và duyệt web. Trong phần này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu đến bạn những lỗi thường gặp phải liên quan đến phần cứng, bộ nhớ và file hệ thống cũng như cách thức khắc phục nếu gặp các lỗi này.

Lỗi “NTLDR is Missing”




Có nhiều cách khác nhau để thông báo lỗi mất file NTLDR, thông thường như sau:

- "NTLDR is missing
Press any key to restart"

- "NTLDR is missing
Press Ctrl Alt Del to restart"

- "Boot: Couldn't find NTLDR
Please insert another disk"

Lỗi "NTLDR is missing” xuất hiện không lâu sau khi khởi động máy. Windows XP chỉ mới bắt đầu load thì thông báo lỗi xuất hiện.

Nguyên nhân

Có nhiều khả năng gây ra lỗi NTLDR. Lý do phổ biến nhất là khi máy tính đang boot từ ổ cứng hay ổ flash gắn ngoài mà lại không được định dạng chính xác. Điều này cũng có thể xảy ra nếu bạn boot từ ổ quang (CD Rom) hay ổ đĩa mềm.

Các khả năng khác bao gồm hỏng file hệ thống, vấn đề với ổ cứng và hệ điều hành, BIOS quá hạn (hết pin CMOS), cáp IDE bị hỏng…Lỗi này chỉ xảy ra cho hệ điều hành Windows XP, bao gồm Windows XP Professional và Windows XP Home Edition. Windows Vista không sử dụng NTLDR.

Khắc phục

1. Khởi động lại máy.

2. Kiểm tra ổ đĩa cứng và ổ quang.

Nếu bạn thấy đây là nguyên nhân của vấn đề, bạn có thể cân nhắc thay đổi lệnh boot trong BIOS. (thay đổi để máy tính khởi động từ ổ cứng hay từ CDRom, tùy trường hợp).

3. Kiểm tra ổ cứng và các thiết lập trong BIOS.

4. Khôi phục NTLDR và file ntdetect.com từ đĩa cài đặt Windows XP.

5. Tạo phân vùng boot mới trong Windows XP.

6. Mở case của máy tính ra và kiểm tra xem các dây nối ổ cứng tới mạch chủ có đúng không. Nếu không giải quyết được thì thay dây mới và thử lại.

7. Update BIOS của mainboard.

8. Cài lại Windows XP. Việc này sẽ xóa hoàn toàn Windows XP trong máy bạn và cài lại. Dù nó sẽ giải quyết hầu hết lỗi NTLDR, nhưng bạn nên nhớ phải sao lưu lại những dữ liệu quan trọng trước khi tiến hành (tháo ổ cứng gắn vào máy tính khác để sao lưu).

9. Nếu mọi cách đều thất bại, có thể bạn đang có vấn đề với ổ cứng. Hãy thay ổ cứng và cài mới Windows XP.

Lỗi “D3dx9_36.dll Not Found”

Lỗi D3dx9_36.dll có thể xuất hiện với các thông báo như sau:

- "D3DX9_36.DLL Not Found", "File d3dx9_36.dll not found"

- "The file d3dx9_36.dll is missing"

- "D3DX9_36.DLL is missing. Replace D3DX9_36.DLL and try again."

- "D3dx9_36.dll not found. Reinstalling might help fix this."

- "Missing component d3dx9_36.dll”

Lỗi D3dx9_36.dll xuất hiện khi một chương trình phần mềm, thường là game được kích hoạt.

Nguyên nhân

Lỗi d3dx9_36.dll là do vấn đề với Microsoft DirectX. File d3dx9_36.dll là một trong nhiều file tương tự chứa trong DirectX. Vì DirectX được sử dụng trong hầu hết game và các chương trình đồ họa cấp cao dựa trên Windows nên lỗi d3dx9_36.dll chỉ xảy ra khi sử dụng những chương trình này. Bất cứ hệ điều hành nào của Microsoft, từ Windows 98 cho đến Windows 2000, Windows XP, and Windows Vista đều có thể bị ảnh hưởng bởi d3dx9_36.dll.

Khắc phục

Trong bất cứ tình huống nào đừng download file d3dx9_36.dll mới từ các site. Vì nhiều lý do, việc này không tốt chút nào. (đặc biệt, những file download được từ Internet ẩn chứa những nguy cơ chứa virus rất cao). Nếu bạn đã download, hãy xóa nó đi.

1. Khởi động lại máy.

2. Cài đặt bản mới nhất của Microsoft DirectX 9

3. Nếu dùng bản DirectX mới nhất của Microsoft không giúp sửa lỗi, hãy tìm chương trình cài DirectX trong game hay CD/DVD. Thông thường, nếu game hay chương trình sử dụng DirectX, các nhà phát triển phần mềm sẽ lưu một bản DirectX trong đĩa cài.

4. Xóa bỏ game hay phần mềm rồi cài lại.

5. Khôi phục file d3dx9_36.dll từ gói phần mềm DirectX 9.

Lỗi “Res://ieframe.dll/dnserror.htm#”

Lỗi ieframe.dll khá là khác nhau và thật sự phụ thuộc vào nguyên nhân của vấn đề. Một vài trong những thông báo lỗi ieframe.dll phổ biến nhất như sau:

- “Res://ieframe.dll/dnserror.htm#","File Not Found

- C:\WINDOWS\SYSTEM32\IEFRAME.DLL”…

Những kiểu lỗi ieframe.dll “not found” hay “missing” thường gặp nhất xảy ra khi sử dụng Internet Explorer 7 hay Visual Basic 6. Thông báo "Res://ieframe.dll/dnserror.htm" và những thông báo liên quan thường gặp hơn và hiện ra trong cửa sổ trình duyệt Internet Explorer 7.

Nguyên nhân:

Lỗi ieframe.dll liên quan đến IE 7. Trong nhiều trường hợp, cài đặt IE 7 sẽ gây ra lỗi này. Những nguyên nhân khác bao gồm virus, Windows Update, thiết lập sai firewall, phần mềm bảo mật quá hạn…

Khắc phục:

Trong bất cứ tình huống nào, bạn cũng đừng download file ieframe.dll từ các site. Vì nhiều lý do đã được nêu ở trên. Nếu bạn đã download, hãy xóa nó đi. Làm theo 1 trong các phương pháp sau để khắc phục lỗi:

1. Khởi động lại máy tính.

2. Cài đặt bản mới nhất của Internet Explorer. Cho dù bạn thiếu file ieframe.dll hay gặp thông báo lỗi về nó, cài lại hoặc nâng cấp bản mới nhất của Internet Explorer sẽ giải quyết mọi vấn đề với file ieframe.dll.

3. Bạn đang dùng Visual Basic 6 để lập trình ? Đừng lo, đổi reference trong Microsoft Internet Controls từ ieframe.dll thành shdocvw.ocx. Lưu project lại rồi mở nó sau.

4. Khởi động lại router, switch, modem và bất cứ thứ gì dùng để kết nối Internet hay các máy tình khác trong đường mạng của bạn. Nếu vấn đề nằm ở những thứ này thì khởi động lại có thể giải quyết được.

5. Quét virus trên máy tính. Thỉnh thoảng lỗi ieframe.dll là do máy bạn nhiễm virus.

6. Tắt Windows Firewall trong Windows XP nếu bạn đã cài firewall khác. Chạy 2 ứng dụng firewall cùng lúc có thể gây nên sự cố nên nếu bạn có các phần mềm như ZoneAlarm, Norton Personal Firewall, Comodo Firewall…, sau đó bạn không nên chạy đồng thời firewall của Windows.

Chú ý: Cho dù bạn khẳng định Windows firewall đã bị tắt, hãy kiểm tra lại. Vài chương trình bảo mật của Microsoft có thể tự động bật firewall.

7. Update tất cả những firewall không phải của Microsoft và những phần mềm bảo mật khác.

Chú ý: Nếu bạn đã dùng bản mới nhất của phần mêm bảo mật, hãy thử xóa nó đi rồi cài lại. Việc cài lại có thể chặn được thông báo lỗi ieframe.dll.

8. Đến trang Windows Update (http://windowsupdate.microsoft.com/) và cài bất cứ bản cập nhật nào mà Microsoft đề nghị. Có thể những bản nâng cấp trước đó của Microsoft đã gây ra lỗi, cài bản nâng cấp có thể giải quyết.

9. Xóa các file temporary trong Internet Exploer 7. Vài lỗi ieframe.dll có thể do các file temporary.

10. Tắt các add-on của Internet Exploer 7 từng cái một. Một trong số các add-on có thể là nguyên nhân gây lỗi.

11. Thiết lập bảo mật của Internet Exploer 7 về mặc định. Vài chương trình, kể cả các bản cập nhật của Microsoft thỉnh thoảng thay đổi các thiết lập bảo mật.

12. Đưa thư mục IE7 Temporary Files về vị trí mặc định trong Windows XP. Nếu thư mục Temporary Internet Files bị di chuyển khỏi vị trí ban đầu, cho dù có bật cả Protected Mode lẫn Phishing Filter, lỗi ieframe.dll vẫn sẽ xảy ra.

13. Tắt Phishing Filter trong IE 7. Đây không phải ý hay nếu bạn không cài phishing filter khác, nhưng trong vài trường hợp nó giúp giải quyết lỗi ieframe.dll.

14. Tắt Protected Mode trong IE 7. Trong vài trường hợp cụ thể, nó giúp giải quyết lỗi ieframe.dll.

->Read More...

Những lỗi thường gặp trong máy tính và cách khắc phục (Phần 1)

- Máy tính của bạn bị treo và nhận được hàng tá thông báo lỗi mà không biết giải quyết ra sao? Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho bạn những lỗi thường gặp nhất trong quá trình sử dụng và cách thức để giải quyết những lỗi đó theo cách đơn giản nhất.

Những lỗi thường gặp trong quá trình duyệt Web: Đang duyệt web bình thường, bỗng nhiên trình duyệt web lại xuất hiện 1 thông báo với những thông tin rắc rối và bạn không thể duyệt web như bình thường nữa. Dưới đây là những thông báo lỗi mà bạn thường gặp nhất khi truy cập vào 1 trang web và cách thức để giải quyết vấn đề nếu chúng xảy ra.

404: Not Found

Lỗi 404 Not Found hiện ra bên trong cửa sổ trình duyệt Internet trong quá trình bạn lướt web. Thông báo lỗi 404 Not Found thường được thiết kế riêng trong từng website, mỗi một trang web sẽ có 1 hình thức thông báo khác nhau cho lỗi này, tuy nhiên thường gặp nhất sẽ là những thông báo có nội dung như: "404 Error", "Page cannot be displayed", "Internet Explorer cannot display the webpage", "404: Not Found", "The page cannot be found", "Error 404: NOT FOUND", "HTTP 404 - File not found", "Not Found"…

Nguyên nhân: Lỗi 404 Not Found xuất hiện khi trang web bạn truy cập không thể tìm thấy trên server.

Khắc phục:

1. Nhấp chuột vào nút refresh/reload trên cửa sổ trình duyệt hay gõ lại địa chỉ URL trên thanh địa chỉ. Lỗi 404 Not Found xuất hiện ngay cả khi không có vấn đề gì thực sự xảy ra, nên thực hiện các công việc trên để load lại trang web có thể khắc phục được lỗi.

2. Kiểm tra địa chỉ URL: Đôi khi có khả năng lỗi 404 Not Found xuất hiện vì địa chỉ URL bị gõ sai hay đường link bạn nhấp chuột vào dẫn đến một địa chỉ sai. Kiểm tra lại thật kỹ để đảm bảo rằng không có sai sót nào trong đường dẫn (chẳng hạn như 1 ký tự trắng thừa...)

3. Lùi một mức địa chỉ URL cho đến khi bạn thấy cái gì đó. Chẳng hạn, nếu địa chỉ của website là www.trangweb.com/a/b/c.htm xuất hiện lỗi 404 Not Found, hãy thử truy cập www.trangweb.com/a/b/. Nếu vẫn xuất hiện lỗi trên, hãy thử www.trangweb.com/a/. Việc này giúp bạn tìm kiếm hay ít nhất giúp bạn xác nhận địa chỉ trên còn tồn tại hay không.

4. Truy cập trang web http://downforeveryoneorjustme.com, điền địa chỉ trang web xuất hiện lỗi 404: Not Found vào công cụ tìm kiếm này, và nó sẽ nói cho bạn biết hoặc website không còn tồn tại (nghĩa là lỗi 404: Not Found xảy ra thật) hay vấn đề ở phía bạn (do đường truyền hoặc do 1 lý do nào đó).

500: Internal Server Error

Tương tự như lỗi 404: Not Found, lỗi 500: Internal Server hiện ra trong cửa sổ trình duyệt trong quá trình duyệt web. Thông báo "500 Internal Server Error" có thể được thiết kế bởi từng website. Tuy nhiên, những nội dung thông báo chính vẫn sẽ chứa đụng các thông tin sau: "500: Internal Server Error", "HTTP Error 500 - Internal Server Error", "500 Error"...

Nguyên nhân:

Lỗi 500 Internal Server báo hiệu có gì sai sót ở server của website hoặc server không thể xác định vấn đề chính xác là gì.

Khắc phục:

500 Internal Server là lỗi ở phía server, không phải tại máy tính hay đường truyền Internet của bạn. Dù vậy có vài điều bạn có thể làm:

1. Nhấp chuột vào nút refresh/reload trên cửa sổ trình duyệt hay gõ lại địa chỉ URL. Bởi vì lỗi 500 Internet Server Error thường mang tính chất tạm thời, nên tiến hành load trang lui lại nhiều lần có thể khắc phục được.

2. Nếu bạn không thể đợi hay bạn có thể giúp, hãy thử liên lạc với webmaster (người chủ) của trang web đó nếu biết được email liên lạc của họ.

403: Forbidden

Như trên, lỗi 403 Forbidden hiện ra trong cửa sổ trình duyệt và cũng thường được thiết bởi từng website.

Nguyên nhân:

Lỗi 403 Forbidden biểu hiện việc truy cập trang web bị cấm vì vài lý do.

Khắc phục:

1. Lý do phổ biến nhất là do sai địa chỉ URL. Hãy kiểm tra địa chỉ URL và chắc chắn là bạn đúng.

2. Nếu bạn chắc trang web bạn truy cập là đúng, thì lỗi 403 Forbidden có thể là nhầm lẫn. hãy thử liên lạc với webmaster hoặc các trang web khác để thông báo vấn đề.

3. Ngoài ra, có thể bạn đang cố gắng vào 1 trang web mà quyền truy cập chỉ dành cho những ai có thẩm quyền. Trong trường hợp này, không còn cách nào khác là đành phải truy cập vào trang web khác.

503 Service Unavailable

Tương tự như lỗi 500 ở trên, lỗi 503 là lỗi tạm thời xảy ra khi trang web ngừng hoạt động hay server để chứa trang web đang có vấn đề tạm thời. Khi gặp lỗi này, cách duy nhất của bạn là đợi 1 thời gian rồi quay lại trang web này hoặc chờ cho đến khi trang web và server hoạt động lại bình thường.

408 Request Timeout

Lỗi 408 Request Timeout xảy ra khi yêu cầu bạn gửi đến server của trang web mất 1 thời gian quá lâu để nhận được hồi đáp, nghĩa là trang web bạn yêu cầu không thể tải xuống trình duyệt web hiện tại thì lỗi này sẽ xuất hiện. Nói cách khác, kết nối của bạn đến website sẽ bị “time out”. Lỗi thường xảy ra khi tốc độ kết nối Internet của bạn quá chậm hay bị chiếm phần nhiều tốc độ bởi 1 công việc khác.

1. Cách khắc phục đơn giản nhất là thử reload lại trang web bằng cách nhấn Refresh trên cửa sổ trình duyệt cho đến khi trang web được load thành công.

2. Vấn đề có thể xảy ra với kết nối Internet của bạn. Để chắc chắn, hãy thử truy cập vào 1 trang web khác để kiểm tra xem tốc độ Internet có ổn định hay không. Nếu tốc độ truy cập vào các trang web khác vẫn đạt tốc độ bình thường, có thể lỗi phát sinh do phía website và server cung cấp.

3. Mặt khác, nếu tất cả các trang web đều truy cập rất chậm, vấn đề là do đường kết nối Internet của bạn. Hãy kiểm tra lại có phần mềm nào đang tự động update hay download hay không. (các chương trình này sẽ chiếm hết đường truyền Internet khiến việc truy cập bị ảnh hưởng).

4. Ngoài ra, lỗi 408 Request Timeout thường xảy ra đối với các trang web có lượng truy cập lớn, khiến việc truy cập của bạn sẽ bị cản trở và ảnh hưởng. Trong trường hợp này, hãy kiên nhẫn đợi chờ những người khác sẽ rời trang web để nhường chỗ cho bạn ghé thăm.

Trên đây là các thông báo lỗi thông dụng mà bạn thường gặp phải trong quá trình sử dụng Internet để duyệt web. Hy vọng với các cách khắc phục nêu trên có thể giúp bạn cảm thấy dễ dàng hơn khi gặp những lỗi này.

->Read More...